Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật có liên quan đến quy hoạch

Luật số 28/2018/QH14 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật có liên quan đến quy hoạch được thông qua ngày 15/6/2018, có hiệu lực 01/01/2019. 

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều có liên quan đến quy hoạch của Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12, Luật Công chứng số 53/2014/QH13, Luật Dược số 105/2016/QH13, Luật Đầu tư số 67/2014/QH13, Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13, Luật Điện lực số 28/2004/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 24/2012/QH13, Luật Hóa chất số 06/2007/QH12, Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13, Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá số 09/2012/QH13, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả số 50/2010/QH12 và Luật Trẻ em số 102/2016/QH13.

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn thực phẩm

1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 4 như sau:

“1. Xây dựng chiến lược quốc gia về an toàn thực phẩm.”.

2. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 62 như sau:

“a) Chủ trì xây dựng, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chiến lược quốc gia về an toàn thực phẩm;”.

3. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 Điều 62 như sau:

“a) Chủ trì xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, chiến lược, kế hoạch và văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý;”.

4. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 63 như sau:

“1. Chủ trì xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, chiến lược, kế hoạch và văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý.”.

5. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 64 như sau:

“1. Chủ trì xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, chiến lược, kế hoạch và văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý.”.

6. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 64 như sau:

“4. Ban hành chính sách phát triển chợ, siêu thị; trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quy định điều kiện kinh doanh thực phẩm tại các chợ, siêu thị.”.

7. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 65 như sau:

“1. Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật địa phương để bảo đảm việc quản lý được thực hiện trong toàn bộ chuỗi cung cấp thực phẩm.”.

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng

1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 18 như sau:

“1. Việc thành lập tổ chức hành nghề công chứng phải tuân theo quy định của Luật này.”.

2. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 24 như sau:

“1. Khi thay đổi một trong các nội dung quy định tại khoản 3 Điều 23 của Luật này, Văn phòng công chứng phải đăng ký nội dung thay đổi tại Sở Tư pháp nơi Văn phòng công chứng đã đăng ký hoạt động.”.

3. Sửa đổi, bổ sung điểm b và điểm c khoản 2 Điều 69 như sau:

“b) Xây dựng, trình Chính phủ ban hành chính sách phát triển nghề công chứng;

c) Chủ trì, phối hợp với bộ, ngành hướng dẫn, quản lý hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng;”.

4. Bãi bỏ điểm b khoản 1 Điều 70.

Điều 3. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược

1. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 10 như sau:

“a) Chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, chính sách phát triển công nghiệp dược;”.

2. Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 Điều 10 như sau:

“c) Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các cơ quan có liên quan trong việc tổ chức phát triển vùng nuôi trồng dược liệu, triển khai các biện pháp bảo tồn, khai thác, sử dụng hợp lý và bền vững nguồn dược liệu;”.

3. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 10 như sau:

“2. Bộ Công Thương có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về công nghiệp hóa dược.”.

4. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 6 Điều 10 như sau:

“a) Chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan xây dựng cơ chế tài chính, huy động và bảo đảm nguồn lực để thực hiện kế hoạch phát triển công nghiệp dược trình cấp có thẩm quyền phê duyệt;”.

5. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 8 Điều 10 như sau:

“a) Tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, chính sách phát triển công nghiệp dược phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và lợi thế của địa phương;”.

6. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 104 như sau:

“5. Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch hệ thống kiểm nghiệm của Nhà nước, quy định về hệ thống tổ chức, cơ sở vật chất và hoạt động của các cơ sở kiểm nghiệm thuốc, nguyên liệu làm thuốc của Nhà nước.”.

7. Bãi bỏ Điều 9.

Điều 4. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư

1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 20 như sau:

“1. Căn cứ quy hoạch được cơ quan có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt theo quy định của pháp luật về quy hoạch, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) xây dựng kế hoạch đầu tư phát triển và tổ chức xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội ngoài hàng rào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu chức năng thuộc khu kinh tế.”.

2. Sửa đổi, bổ sung Điều 21 như sau:

Điều 21. Phát triển nhà ở, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng cho người lao động trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế

1. Căn cứ quy hoạch được cơ quan có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt theo quy định của pháp luật về quy hoạch, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập quy hoạch và bố trí quỹ đất để phát triển nhà ở, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng cho người lao động làm việc trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

2. Đối với địa phương gặp khó khăn trong bố trí quỹ đất phát triển nhà ở, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng cho người lao động trong khu công nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch có thẩm quyền phê duyệt việc điều chỉnh quy hoạch để dành một phần diện tích đất phát triển nhà ở, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng.”.

3. Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 6 Điều 33 như sau:

“c) Đánh giá sự phù hợp của dự án đầu tư với quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị và quy hoạch đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (nếu có); đánh giá tác động, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án;”.

4. Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 6 Điều 35 như sau:

“c) Sự phù hợp của dự án với chiến lược, quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị và quy hoạch đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (nếu có);”.

Điều 5. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công

1. Bổ sung khoản 5 vào Điều 5 như sau:

“5. Đầu tư lập, thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt, công bố và điều chỉnh quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch.”.

2. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 12 như sau:

“2. Phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm của đất nước và quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch.”.

3. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 18 như sau:

“1. Phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt.”.

4. Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 2 Điều 21 như sau:

“d) Sự phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch;”.

5. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 34 như sau:

“1. Sự cần thiết của chương trình để thực hiện các mục tiêu chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch;”.

6. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 40 như sau:

“2. Quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch.”.

7. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 46 như sau:

“a) Khi điều chỉnh mục tiêu và thay đổi điều kiện thực hiện trong chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch;”.

8. Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 2 Điều 47 như sau:

“b) Đánh giá sự phù hợp với quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch;”.

9. Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 Điều 50 như sau:

“c) Quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch;”.

10. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 55 như sau:

“1. Chương trình, dự án đã được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, dự án lập quy hoạch.”.

11. Sửa đổi, bổ sung Điều 57 như sau:

Điều 57. Vốn chuẩn bị đầu tư, vốn lập quy hoạch và vốn thực hiện dự án trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm

1. Vốn chuẩn bị đầu tư được bố trí để:

a) Lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư dự án;

b) Lập, thẩm định, quyết định đầu tư dự án.

2. Vốn lập quy hoạch được bố trí để lập, thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt, công bố và điều chỉnh quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch.

3. Vốn thực hiện dự án được bố trí để giải phóng mặt bằng, lập thiết kế kỹ thuật, lập thiết kế bản vẽ thi công, lập dự toán của dự án hoặc hạng mục của dự án và tổ chức thi công cho các dự án đã hoàn thành nhưng chưa được bố trí đủ vốn, dự án dự kiến hoàn thành, dự án đang thực hiện, dự án khởi công mới.

4. Việc cân đối vốn chuẩn bị đầu tư, vốn lập quy hoạch và vốn thực hiện dự án theo quy định của Chính phủ.”.

12. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 96 như sau:

“1. Đề xuất chương trình, dự án phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch trong từng thời kỳ.”.

Điều 6. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực

1. Sửa đổi, bổ sung Điều 8 như sau:

Điều 8. Quy hoạch phát triển điện lực

1. Quy hoạch phát triển điện lực là quy hoạch ngành quốc gia làm cơ sở cho các hoạt động đầu tư phát triển điện lực.

2. Việc lập quy hoạch phát triển điện lực phải tuân thủ quy định của pháp luật về quy hoạch và các nguyên tắc sau đây:

a) Căn cứ vào chiến lược phát triển năng lượng quốc gia;

b) Phù hợp với định hướng phát triển các nguồn năng lượng sơ cấp cho phát điện gồm cả nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo.

3. Thời kỳ quy hoạch phát triển điện lực là 10 năm. Tầm nhìn của quy hoạch phát triển điện lực là từ 30 năm đến 50 năm.”.

2. Sửa đổi, bổ sung Điều 9 như sau:

Điều 9. Lập, thẩm định, phê duyệt, công bố, tổ chức thực hiện và điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực

1. Bộ Công thương tổ chức lập quy hoạch phát triển điện lực trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quy định của pháp luật về quy hoạch.

2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lập nội dung phương án phát triển mạng lưới cấp điện trong quy hoạch tỉnh.

3. Việc lập, thẩm định, phê duyệt, công bố, tổ chức thực hiện và điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực theo quy định của pháp luật về quy hoạch.”.

3. Sửa đổi, bổ sung Điều 10 như sau:

Điều 10. Chi phí lập, thẩm định, phê duyệt, công bố, điều chỉnh và đánh giá thực hiện quy hoạch phát triển điện lực

Chi phí lập, thẩm định, phê duyệt, công bố, điều chỉnh và đánh giá thực hiện quy hoạch phát triển điện lực theo quy định của pháp luật về quy hoạch.”.

4. Bãi bỏ Điều 8a.

Điều 7. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hóa chất

1. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 6 như sau:

“2. Nhà nước đầu tư xây dựng hệ thống kiểm soát an toàn hóa chất quốc gia, cơ sở dữ liệu thông tin an toàn hóa chất.”.

2. Bổ sung khoản 5 vào Điều 10 như sau:

“5. Địa điểm bố trí khu công nghiệp, cơ sở sản xuất hóa chất phải phù hợp với đặc điểm, tính chất của hóa chất và công nghệ sản xuất, bảo quản hóa chất, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu an toàn hóa chất.”.

3. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 49 như sau:

“3. Phục vụ điều tra, khảo sát để xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển công nghiệp hóa chất;”.

4. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 63 như sau:

“a) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Chính phủ ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, kế hoạch phát triển công nghiệp hóa chất; quy chuẩn kỹ thuật về an toàn hóa chất;”.

5. Bãi bỏ Điều 8 và Điều 9.

Điều 8. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoa học và công nghệ

1. Sửa đổi, bổ sung Điều 10 như sau:

Điều 10. Quy hoạch mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ công lập

1. Quy hoạch mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ công lập là quy hoạch ngành quốc gia.

2. Việc lập quy hoạch mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ công lập phải tuân thủ quy định của pháp luật về quy hoạch và các nguyên tắc sau đây:

a) Xây dựng quy hoạch mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ công lập thống nhất, đồng bộ và phân bố hợp lý, phù hợp với yêu cầu phát triển khoa học và công nghệ;

b) Gắn kết tổ chức khoa học và công nghệ với cơ sở đào tạo và tổ chức ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;

c) Bảo đảm thực hiện mục tiêu nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia, chú trọng những lĩnh vực khoa học và công nghệ phục vụ trực tiếp nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh;

d) Bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học và công nghệ ưu tiên, trọng điểm.

3. Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức lập quy hoạch mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ công lập trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quy định của pháp luật về quy hoạch.”.

2. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 11 như sau:

“2. Ngoài các quy định tại khoản 1 Điều này, việc thành lập tổ chức khoa học và công nghệ công lập phải phù hợp với quy hoạch mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ công lập và ý kiến thẩm định của cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ theo phân cấp của Chính phủ.”.

3. Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 2 Điều 16 như sau:

“b) Phục vụ hoạt động hoạch định chính sách phát triển khoa học và công nghệ, quy hoạch mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ công lập;”.

4. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 22 như sau:

“1. Căn cứ vào chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt kế hoạch phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trên cơ sở đề xuất của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan khác của Nhà nước.”.

5. Bãi bỏ khoản 2 và khoản 3 Điều 67.

Điều 9. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá

1. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 4 như sau:

“3. Hoạt động sản xuất, kinh doanh thuốc lá phải phù hợp với mục tiêu từng bước giảm nguồn cung cấp thuốc lá, phù hợp với việc giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá.”.

2. Bãi bỏ Điều 20 và khoản 1 Điều 21.

Điều 10. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

1. Sửa đổi, bổ sung Điều 6 như sau:

Điều 6. Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia, quy hoạch tổng thể về năng lượng, chương trình sử dụng năng lượng

1. Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia, chương trình sử dụng năng lượng phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:

a) Cung cấp năng lượng ổn định, an toàn; sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguồn tài nguyên năng lượng;

b) Dự báo cung, cầu năng lượng phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; kết hợp hài hòa, cân đối giữa các ngành than, dầu khí, điện lực và các năng lượng khác;

c) Thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, ưu tiên phát triển hợp lý công nghệ năng lượng sạch, nâng cao tỷ trọng sử dụng năng lượng tái tạo;

d) Xây dựng và thực hiện lộ trình chế tạo phương tiện, thiết bị, vật liệu xây dựng tiết kiệm năng lượng.

2. Quy hoạch tổng thể về năng lượng là quy hoạch ngành quốc gia. Việc lập quy hoạch tổng thể về năng lượng phải tuân thủ quy định của pháp luật về quy hoạch và đáp ứng các yêu cầu quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển năng lượng quốc gia, chương trình sử dụng năng lượng.

Bộ Công thương tổ chức lập quy hoạch tổng thể về năng lượng trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quy định của pháp luật về quy hoạch.”.

2. Bãi bỏ điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 25.

Điều 11. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trẻ em

1. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 5 như sau:

“5. Khi xây dựng chính sách, pháp luật tác động đến trẻ em, phải xem xét ý kiến của trẻ em và của các cơ quan, tổ chức có liên quan; bảo đảm lồng ghép các mục tiêu, chỉ tiêu về trẻ em trong quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, ngành và địa phương.”.

2. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 7 như sau:

“1. Nhà nước bảo đảm nguồn lực thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu về trẻ em trong quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, ngành và địa phương; ưu tiên bố trí nguồn lực để bảo vệ trẻ em, bảo đảm thực hiện quyền trẻ em.”.

3. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 45 như sau:

“2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí quỹ đất, đầu tư xây dựng điểm vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao cho trẻ em; bảo đảm điều kiện, thời gian, thời điểm thích hợp để trẻ em được tham gia hoạt động tại các thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở.”.

4. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 57 như sau:

1. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thành lập cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em công lập thuộc thẩm quyền quản lý và cấp đăng ký hoạt động đối với cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em khác có phạm vi hoạt động ở nhiều tỉnh; chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành và hướng dẫn thực hiện việc phát triển cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em; xây dựng quy trình, tiêu chuẩn cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em thuộc lĩnh vực quản lý và kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.

2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em công lập và cấp đăng ký hoạt động đối với cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em khác có phạm vi hoạt động trong địa bàn tỉnh.”.

5. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 74 như sau:

“a) Xây dựng và triển khai chương trình, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội;”.

6. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 79 như sau:

“2. Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội để xem xét, đánh giá những vấn đề liên quan đến trẻ em trong dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và việc lồng ghép các mục tiêu, chỉ tiêu về trẻ em khi thẩm tra quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia; giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật liên quan đến trẻ em và việc thực hiện quyền trẻ em.”.

7. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 82 như sau:

“2. Tham gia ý kiến bằng văn bản về những vấn đề liên quan đến trẻ em gửi ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và văn bản quy phạm pháp luật khác; đề xuất việc lồng ghép các mục tiêu, chỉ tiêu về trẻ em khi xây dựng quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, ngành, địa phương.”.

Điều 12. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019.

Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2018.

 TẢI LUẬT SỬA ĐỔI BỔ SUNG 11 LUẬT QUY HOẠCH TẠI ĐÂY

 

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Nguyễn Thị Kim Ngân

 

Luật Tố cáo năm 2018

Luật Tố cáo được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 12 tháng 6 năm 2018, có hiệu lực 01/01/2019 thay thế cho Luật Tố cáo năm 2011

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật Tố cáo.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ và hành vi vi phạm pháp luật khác về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực; bảo vệ người tố cáo; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc quản lý công tác giải quyết tố cáo.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm:

a) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ;

b) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.

2. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của các đối tượng sau đây:

a) Cán bộ, công chức, viên chức; người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ;

b) Người không còn là cán bộ, công chức, viên chức nhưng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian là cán bộ, công chức, viên chức; người không còn được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhưng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ;

c) Cơ quan, tổ chức.

3. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực là tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào về việc chấp hành quy định của pháp luật, trừ hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

4. Người tố cáo là cá nhân thực hiện việc tố cáo.

5. Người bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo.

6. Người giải quyết tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo.

7. Giải quyết tố cáo là việc thụ lý, xác minh, kết luận nội dung tố cáo và xử lý kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo.

Điều 3. Áp dụng pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo

1. Tố cáo và giải quyết tố cáo được áp dụng theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Trường hợp luật khác có quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của luật đó.

2. Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

Điều 4. Nguyên tắc giải quyết tố cáo

1. Việc giải quyết tố cáo phải kịp thời, chính xác, khách quan, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thời hạn theo quy định của pháp luật.

2. Việc giải quyết tố cáo phải bảo đảm an toàn cho người tố cáo; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo trong quá trình giải quyết tố cáo.

Điều 5. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm sau đây:

a) Tổ chức việc tiếp nhận và giải quyết tố cáo theo đúng quy định của pháp luật; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm an toàn cho người tố cáo; xử lý nghiêm minh người có hành vi vi phạm pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình;

b) Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo khi chưa có kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo mà không tiếp nhận, không giải quyết tố cáo theo đúng quy định của pháp luật, thiếu trách nhiệm trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo hoặc giải quyết tố cáo trái pháp luật thì phải bị xử lý nghiêm minh; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật.

Điều 6. Trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc giải quyết tố cáo

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm phối hợp với người giải quyết tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung tố cáo theo quy định của pháp luật; áp dụng các biện pháp bảo vệ người tố cáo theo thẩm quyền; xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật theo kết luận nội dung tố cáo; xử lý cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về tố cáo.

Điều 7. Chấp hành quyết định xử lý hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo

Quyết định xử lý hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm chấp hành quyết định xử lý hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo mà không chấp hành thì phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo và giải quyết tố cáo

1. Cản trở, gây khó khăn, phiền hà cho người tố cáo.

2. Thiếu trách nhiệm, phân biệt đối xử trong việc giải quyết tố cáo.

3. Tiết lộ họ tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và thông tin khác làm lộ danh tính của người tố cáo.

4. Làm mất, làm sai lệch hồ sơ, tài liệu vụ việc tố cáo trong quá trình giải quyết tố cáo.

5. Không giải quyết hoặc cố ý giải quyết tố cáo trái pháp luật; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong việc giải quyết tố cáo để thực hiện hành vi trái pháp luật, sách nhiễu, gây phiền hà cho người tố cáo, người bị tố cáo.

6. Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm bảo vệ người tố cáo.

7. Can thiệp trái pháp luật, cản trở việc giải quyết tố cáo.

8. Đe dọa, mua chuộc, trả thù, trù dập, xúc phạm người tố cáo.

9. Bao che người bị tố cáo.

10. Cố ý tố cáo sai sự thật; cưỡng ép, lôi kéo, kích động, dụ dỗ, mua chuộc người khác tố cáo sai sự thật; sử dụng họ tên của người khác để tố cáo.

11. Mua chuộc, hối lộ, đe dọa, trả thù, xúc phạm người giải quyết tố cáo.

12. Lợi dụng quyền tố cáo để tuyên truyền chống Nhà nước, xâm phạm lợi ích của Nhà nước; gây rối an ninh, trật tự công cộng; xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác.

13. Đưa tin sai sự thật về việc tố cáo và giải quyết tố cáo.

TẢI LUẬT TỐ CÁO NĂM 2018

Quyết định công nhận thành phố Tam Kỳ là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Quảng Nam

Download:
http://1drv.ms/1XNFa3t

Quy định gửi, nhận văn bản điện tử giữa cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước

Quyết định 28/2018/QĐ-TTg về gửi, nhận văn bản điện tử giữa cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước do Thủ tướng Chính phủ ban hành.

Số hiệu: 28/2018/QĐ-TTg   Loại văn bản: Quyết định
Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ   Người ký: Nguyễn Xuân Phúc
Ngày ban hành: 12/07/2018   Ngày hiệu lực: 06/09/2018

TẢI TẠI ĐÂY

Phân loại, phân cấp đô thị ở Việt Nam: Thực trạng & yêu cầu đổi mới




TP Hạ Long, Quảng Ninh 

Thực tiễn trên cho thấy việc phân loại, phân cấp quản lý đô thị đã góp phần thúc đẩy phát triển hệ thống đô thị Việt Nam. Tuy nhiên Việt Nam cần xác định 5 tiêu chí như quy định trong Luật tổ chức chính quyền địa phương (điều 140) song cần thống nhất nội hàm các tiêu chí và định lượng cho từng tiêu chí tương ứng với từng loại đô thị.  

 

Những vấn đề chung về thể chế 

Chiến lược phát triển đô thị Quốc gia là bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của cả nước. Phân loại đô thị, phân cấp quản lý đô thị luôn được gắn với tổ chức chính quyền địa phương của mỗi quốc gia, song tuỳ theo kinh nghiệm lịch sử và hệ thống chính trị của mỗi quốc gia mà có sự phân loại, phân cấp đô thị khác nhau. Việt Nam ngay từ sau thời kỳ “đổi mới” đã nhận thấy cần phải chấn chỉnh công tác quản lý đô thị và đặt ra một số nhiệm vụ cấp bách là: 

– Nhận thức rõ vị trí chiến lược và vai trò quan trọng của hệ thống đô thị. 
– Đổi mới công tác quy hoạch và quản lý đô thị.
– Huy động mọi nguồn tài chính vào phát triển đô thị, xoá bỏ bao cấp tràn lan nhưng phải đảm bảo các chính sách xã hội.
– Xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng đô thị. Từ những yêu cầu như vậy, Nhà nước Việt Nam đã có các thể chế về phân loại, phân cấp đô thị để có định hướng phát triển và quản lý thích hợp với mỗi giai đoạn.
– Năm 1990 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành quyết định số 132/HĐBT ngày 05/5/1990 về phân loại đô thị và phân cấp quản lý đô thị. Trong đó xác định để phân loại đô thị căn cứ 5 yếu tố và đô thị được chia thành 5 loại (loại 1 đến loại 5). Đô thị loại 1 và loại 2 chủ yếu do Trung ương quản lý, đô thị loại 3 và loại 4 chủ yếu do Tỉnh quản lý và đô thị loại 5 chủ yếu do Huyện quản lý.
– Năm 2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định 72/2001/NĐ-Cp ngày 05/10/2001 về phân loại đô thị, phân loại đô thị theo 5 tiêu chí với 6 loại đô thị: đặc biệt và loại 1 đến loại 5.
– Năm 2009 chính phủ đã ban hành Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 05/01/2009 về phân loại Đô thị. Trong đó xác định đô thị gồm 6 loại: đặc biệt, loại I, II, III, IV, V với 6 tiêu chí để xét phân loại. So với Nghị định 72/2001 có bổ sung tiêu chí về kiến trúc cảnh quan.
– Luật Quy hoạch đô thị có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 quy định Đô thị phân thành 6 loại: đặc biệt, loại I đến loại V theo các tiêu chí cơ bản: Vị trí, chức năng, trình độ phát triển; Quy mô dân số; Mật độ dân số; Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp; Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng

Việc phân cấp quản lý hành chính đô thị được xác định:

– Thành phố trực thuộc Trung ương là đô thị đặc biệt hoặc đô thị loại I.
– Thành phố thuộc Tỉnh là đô thị loại I, hoặc II, III.
– Thị xã là đô thị loại III, IV.
– Thị trấn là đô thị loại IV, V.

Qua các quy định trên cho thấy Luật Quy hoạch Đô thị đã có điều chỉnh lại về tiêu chí xét phân loại đô thị.

Luật Tổ chức chính quyền địa phương được Quốc hội thông qua tháng 6/2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 tại điều 140 đã có sửa đổi, bổ sung quy định trong Luật QHĐT. Theo đó, Đô thị được phân làm 6 loại là: Đặc biệt, loại I, II, III, IV, V theo 5 tiêu chí xác định đơn vị hành chính gồm:

– Tỉnh,Thành phố trực thuộc Trung ương.
– Huyện, Quận, Thị xã, Thành phố thuộc Tỉnh và thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (đây là quy định mới).
– Xã, phường, thị trấn.
– Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt.

Trong Luật này cũng đã quy định: phân loại đơn vị hành chính phải dựa trên các tiêu chí về dân số, diện tích tự nhiên, số đơn vị hành chính trực thuộc, trình độ phát triển kinh tế – xã hội và các yếu tố đặc thù của từng đơn vị hành chính ở nông thôn, đô thị, hải đảo.

Từ các văn bản pháp luật nêu trên cho thấy Nghị định 42/2009./NĐ-CP đã bộc lộ một số tồn tại không phù hợp với các văn bản pháp luật ban hành sau đó (nhất là so với Luật Tổ chức Chính quyền địa phương). Do vậy cần phải có Nghị định thay thế, điều chỉnh. 


Thành phố Vũng Tàu, Bà Rịa – Vũng Tàu 

Thực tiễn về phát triển đô thị và phân loại, phân cấp đô thị Việt Nam 

Năm 1990 cả nước có khoảng gần 500 đô thị với 77 thành phố, thị xã và trên 400 đô thị là thị trần huyện lỵ với dân số đô thị gần 14 triệu, so với dân số cả nước khoảng trên 70 triệu người (tỷ lệ đô thị hoá xấp xỉ 20%), tỷ lệ GDP khu vực đô thị đạt xấp xỉ 36% so với GDP cả nước. Đến tháng 12/2014 cả nước có khoảng 774 đô thị, với 02 đô thị đặc biệt, 15 đô thị loại I, 21 đô thị loại II, 42 đô thị loại III, 66 đô thị loại IV và 628 đô thị loại V, tỷ lệ đô thị hoá xấp xỉ 34,5%. Theo báo cáo tại diễn đàn Đô thị Việt Nam (04/11/2015) tính đến tháng 10/2015, cả nước đã có 788 đô thị, với tỷ lệ đô thị hoá đạt 35,2%. Mức tăng trưởng kinh tế khu vực đô thị cao gần gấp 2 cả nước, nguồn thu từ hoạt động kinh tế đô thị ước đạt 70 – 75% GDP cả nước, riêng 5 thành phố trực thuộc Trung ương chiếm trên 50% GDP cả nước.

Thực tiễn trên cho thấy việc phân loại, phân cấp quản lý đô thị đã góp phần thúc đẩy phát triển hệ thống đô thị Việt Nam, chất lượng đô thị từng bước được nâng lên, diện mạo đô thị có nhiều thay đổi, và nhất là khẳng định đô thị có vai trò động lực phát triển kinh tế – xã hội song cũng bộc lộ một số tồn tại là:

– Nhiều đô thị được xem xét để công nhận hoặc nâng loại còn linh hoạt, còn nợ các tiêu chí như: tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, chất lượng cơ sở hạ tầng… và sau đó chưa có chế tài kiểm tra, giám sát để khắc phục.
– Trong các tiêu chí để xem xét có tiêu chí chưa được định lượng như về kiến trúc cảnh quan, về cơ sở hạ tầng hoặc xác định giới hạn tính toán chỉ tiêu theo ranh giới đô thị (gồm nội đô hay cả ngoại thành, ngoại thị).
– Chưa có tiêu chí để xác định đặc thù đô thị về điều kiện tự nhiên (vùng núi, hải đảo) về chức năng (trung tâm hành chính, du lịch, khoa học…) về đặc khu hành chính…
– Phân loại đô thị chưa gắn với quy định cấp quản lý hành chính để phù hợp với quy định về tổ chức chính quyền địa phương, nhất là với đô thị hiện hữu được mở rộng. 

Tiêu chí phân loại, phân cấp quản lý đô thị - Yêu cầu đổi mới 

Trong 2 năm qua, Bộ Xây dựng đã nghiên cứu dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 42/2009/NĐ-CP. Quá trình nghiên cứu đã có nhiều hội thảo và đóng góp ý kiến của các cơ quan liên quan, các tổ chức xã hội nghề nghiệp và chuyên gia. Tuy vậy còn những ý kiến khác nhau cần được trao đổi để thống nhất.

– Phân loại, phân cấp quản lý đô thị có vai trò quan trọng là động lực để phát triển hoàn chỉnh hệ thống đô thị Việt Nam có chất lượng và để tạo điều kiện phát triển KT – XH ở các địa phương, do vậy rất cần xác định rõ định lượng thích hợp của từng tiêu chí (như số dân, tỷ lệ % tương ứng…) để khuyến khích phát triển các đô thị vừa và nhỏ (loại III, IV và V) và đô thị đặc thù (du lịch, khoa học, giáo dục…). Để làm được yêu cầu này rất cần cơ quan nghiên cứu soạn thảo phải có nhiều kịch bản để thích hợp với giai đoạn phát triển mới đưa Việt Nam tiếp tục phát triển không mắc bẫy “thu nhập trung bình”.
– Tiêu chí để phân loại đô thị. Trên thế giới hiện nay xác định tiêu chí để phân loại có sự khác nhau. Với Việt Nam cần xác định 5 tiêu chí như quy định trong Luật tổ chức chính quyền địa phương (điều 140) song cần thống nhất nội hàm các tiêu chí và định lượng cho từng tiêu chí tương ứng với loại đô thị. Xin nêu ví dụ như khái niệm đô thị cần được hiểu đúng Thành phố, bao gồm cả nội thành và ngoại thành, thị xã bao gồm cả nội thị, ngoại thị; đây là đặc thù của Việt Nam và cũng là xu thế mở rộng đô thị hiện nay, vậy khi xem xét các tiêu chí mật độ dân số, quy mô dân số chỉ tính riêng phần nội đô, nội thị hay tính cả phần ngoại thành, ngoại thị. Tính tỷ lệ lao động phi nông nghiệp cần xem xét đến khái niệm này của ngân hàng thế giới để phù hợp với yêu cầu hội nhập và xu thế xây dựng nông thôn mới của Việt Nam. Khái niệm đô thị đặc thù cần làm rõ yêu cầu về địa lý, chức năng để tránh tình trạng xác định đô thị đa chức năng để được ưu tiên áp dụng tiêu chí đặc thù. Quản lý đô thị cần phải được xác định rõ các nội dung cần trong các tiêu chí để tránh tình trạng không có căn cứ để kiểm soát sau khi đã được công nhận hoặc nâng loại đô thị. Khái niệm hạ tầng kỹ thuật khung và cơ sở hạ tầng cần thống nhất nội hàm và tính đến tác động của biến đổi khí hậu để phân loại đô thị. 
– Trình tự xem xét phân loại và quyết định công nhận loại đô thị. Thống nhất xu hướng là tăng cường phân công, phân cấp cho địa phương song chính quyền địa phương không chỉ là Uỷ ban nhân dân mà bao gồm cả Hội đồng nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính theo như quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Để đảm bảo chất lượng đô thị cũng cần quy định quy trình tái thẩm định để khắc phục tình trạng nợ tiêu chí./. 

TS.KTS. Đào Ngọc NghiêmPhó Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt Nam 
(Tạp chí Kiến trúc Việt Nam)  

Ban hành quy chế quản lý Quy hoạch kiến trúc đô thi Tam Kỳ


QUYẾT ĐỊNH
Ban hành Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị Tam Kỳ

 
   

 

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

 
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND ngày 03/12/2004;
Căn cứ Luật Quy hoạch đô thị ngày 17/6/2009;
Căn cứ Nghị định số 38/2010/NĐ-CP ngày 07/4/2010 của Chính phủ về quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị;
Căn cứ Thông tư số 19/2010/TT-BXD ngày 22/10/2010 của Bộ Xây dựng hướng dẫn lập Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc, cảnh quan đô thị;
Căn cứ Quyết định số 3500/QĐ-UBND ngày 06/11/2014 của UBND tỉnh phê duyệt Quy hoạch và ban hành Quy định quản lý xây dựng kèm theo đồ án Điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050;
Căn cứ Quyết định số 2522/QĐ-UBND ngày 17/7/2015 của UBND tỉnh bổ sung và điều chỉnh chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2015;
Xét đề nghị của UBND thành phố Tam Kỳ tại Tờ trình số 345/TTr-UBND ngày 23/11/2015về việc phê duyệt Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị thành phố Tam Kỳ;
Theo đề nghị của Sở Xây dựng tại Tờ trình số 397/TTr-SXD ngày 23/11/2015,
 

QUYẾT ĐỊNH:

 
Điều 1.Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị Tam Kỳ.
Điều 2.Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực, UBND thành phố Tam Kỳ có trách nhiệm rà soát, điều chỉnh hoặc tham mưu cấp có thẩm quyền điều chỉnh các Quyết định của UBND thành phố, UBND tỉnh có nội dung trái với Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị Tam Kỳ ban hành kèm theo Quyết định này.
Điều 3.Chánh Văn phòng UBND tỉnh; Giám đốc các Sở, Ban, ngành; Chủ tịch UBND thành phố Tam Kỳ và Thủ trưởng các đơn vị, tổ chức cá nhân liên quan căn cứ Quyết định thi hành./.
 

Nơi nhận:
- Như điều 3;
- Bộ Xây dựng;
- TTTU, TT HĐND tỉnh;
- CT, các PCT UBND tỉnh;
- Báo Quảng Nam;
- Đài PT-TH tỉnh;
- Trung tâm Cổng TTĐT tỉnh;
- CPVP;
- Lưu: VT, KTTH, KTN, VX, TH, THCB.
 
TM.ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH
 
 
(đã ký) 
 
 
 
Đinh Văn Thu